CULTURE ET PENSEES DE DIEM DAO
Forever love - Thương Mãi Mãi
Bà Ngoại LÊ THỊ HUÊ




























là người có nhiều ảnh hưởng trong thời thơ ấu của Diễm Đào. Bà đã
thương yêu, dạy dỗ Diễm Đào bằng với tất cả tình thuơng , với sự thông
minh với sự hiểu biết thâm sâu của bà. Bà đã tiếp tục truyền đạt tình
thương đó cho con cái Diễm Đào.
Diễm Dào cùng các con, luôn thương nhớ bà với tất cả lòng ngưởng mộ,
lòng chân thành và tình thương đó sẽ sống mãi trong lòng con cháu.
Diễm Đào và các con luôn nhớ Bà và hình ảnh bà khắc trong tim con
cháu và không bao giờ nhạt phai. Bà đả mất đi nhưng bà vẫn luôn luôn «
có mặt » để nâng đõ tinh thần các con cháu.

WE LOVE YOU SO MUCH FOREVER...










Grandma Le Thi Hue was the main influence in Diem Dao's
childhood. She loved her, educated her, and formed her with
love, intelligence, and wisdom. She continued to love her two
daughters the same way. She had lived with Diem Dao and her
daughters for years. She passed most of her time reading to her
granddaughters, to teach them French, and to teach them about
life with her courage and wisdom.
She taught them love of others, compassion, tolerance, faith and
sincerity.
Le Thi Hue was a brave, loving, sincere, willful, and brilliant
woman. She taught French in the beginning of the 20th century
in Vietnam when most women were still illiterate. She was also a
very accomplished and successful business woman.
She remained active both physically and intellectually until the
last years of her life. She loved to read, to write, and to do yard
work.
Diem Dao and her daughters have always loved grandma Le Thi
Hue with admiration, devotion, and tenderness during her whole
life and after she passed away.
They miss her everyday of their life.







CO 12

















Gia tài để lại

Một hôm có dịp sắp xếp lại những hình ảnh, sách vở cũ, tôi thấy một bài thơ ngắn của cô Mười
Hai viết tặng tôi.  Bản chánh tôi để lạc mất Thời gian trôi qua, tôi không nhớ rõ bài thơ này cô viết
lúc tôi còn ở bên nhà hay đã sang Pháp ? Nhưng câu thơ chót là Năm chỉ năm mươi thì tôi nhớ
là lúc đó tôi có dịp quay trở lại quê hương lần đầu tiên và gặp lại cô sau nhiều năm xa cách. Và
năm đó cũng là lần chót mà tôi gặp cô.
Sóc con nhảy múa tung tăng
Năm hai tuổi độ trăng tròn vui chơi.
Sáu một mười bảy yêu đời
Năm chỉ năm mươi nhìn trời ước mơ !

« Thắng về Nội thối về Ngoại », cũng có thể vì lý do đó, mà khi ngày Ba chúng tôi vì hoàn cảnh
xa gia đình tôi. Chúng tôi từ Sài Gòn trở vể tỉnh Vĩnh Long, là quê Ngoại, và anh em chúng tôi lớn
lên bên cạnh những người trong gia đình bên Ngoại. Chúng tôi được bao bọc bởi tình thương
của cậu, Dì tôi, của bà Cố, bà Ngoại và tất cả gia đình bên Ngoại. Chúng tôi không hề thắc mắc
gì về gia đình bên Nội của mình.

Sau hơn một phần tư thế kỷ, một ngày nọ, tôi có cơ hội gặp được những người bà con bên Nội
trong chuyến đi vể Chợ Giữa (Mỹ Tho). Làng Vĩnh Kim là quê nội và là nơi sinh trưởng của gia
đình bên nội tôi. Nghĩ cũng lạ, nơi đây không xa Sài Gòn lắm mà tôi không hề biết mình có những
người thân ở đây ! Trong suốt con đường đất, từ ngoài cổng làng, gần như phần đông là những
người bà con. Lần đó tôi đưọc gặp cô Mười Hai, là chị họ của ba tôi. Chỉ cần nghe tên cô, cô là
con Út thì cô phải có cả thảy mười một anh chị em. Nhưng tôi chỉ được nghe nói Cậu Năm Mỹ
Ca, cô Bảy Trang, cô Mười Hai, tên cô là Xuân. Chưa kể tôi còn được biết tôi có nhiều anh chị
họ, chi Ba, chị Tư, chị Bảy, chị Tám, anh Mười…

Nhà cô Mười hai ở đầu làng, một căn nhà khá khang trang, lợp mái ngói, có hàng rào, cổng rào
đơn sơ, chỉ cần xô nhẹ là bước vào một hàng hiên. Gian đầu tiên, có một bàn thờ, một loại tủ gỗ
cao, chạm trổ, trên đó có hình những người tân đã quá cố, hai bộ lư hương vàng bóng loáng,
một bát nhang, một mâm trái cây.
Trước bàn thờ có một cái bàn hình chữ nhật với sáu cái ghế dựa, trên bàn có một ấm trà, và một
mâm trên có vài cái tách. Một bộ ván gỗ đen nhánh, vừa là chỗ cho khách ngồi và cũng là chỗ
ngủ khi có khách hay bà con từ xa đến.

Gian này có môt cửa nhỏ, nhưng chỉ có một tấm màn che, đi vào phòng bên trong, có một giuờng
nhỏ, đó là phòng ngủ của cô, bên cạnh chiếc giường nhỏ, có tấm nệm mỏng, có khăn phủ
giuờng, một cái tủ khá lớn, kiên cố. Có thể là tủ quần áo và là nơi cất giữ giấy tờ tiền bạc ?

Phòng ngủ của cô, có một cửa nhỏ dẫn đến một gian cất đơn sơ, dường như bằng lá. Đây là nhà
bếp, có một bàn nhỏ dựa tường, vài cái ghế đẩu, trên bàn cũng có ấm trà. Một cái bếp có hình
dài giống như hình số tám, tôi nhớ không lầm gọi là « cà ràng ». Khi nấu thì mình để những cây
củi dài, cà ràng có ba chân, bằng loại đất nung. Có lẽ đây là một loại lò vừa rẻ tiền và xưa ? Vì
bên cạnh « cà ràng »(*),  cô còn có lò nấu bằng dầu lửa, là một loại lò « hiện đại » vào thời đó !

Kế bên có một tủ lưới để đựng thức ăn gọi là « gạc măng giê » (garde- manger). Một cái bàn nhỏ,
thấp, trên bàn đủ hết các loại nước mắm, nước tương, dầu ăn, một hủ mở heo có đậy nắp. Mở
heo được thắng ra thành nước, và những miếng « mỡ thịt » trắng ngậy. Nhũng miếng mỡ này
được cắt thành những miếng vuông cho vào nồi gang để « thắng mỡ », những miếng mỡ kia sẽ
teo nhỏ lại gọi là « tóp mỡ ». Tóp mỡ này được bỏ thêm vào trong những nồi thịt kho tiêu, vừa
thơm ngon, béo ngậy, lại tiết kiệm vì sẽ làm cho nồi thịt phong phú hơn. Tôi còn nhớ dường như
tóp mỡ này mình có thể thắng đường thành như « caramel » rồi cho tóp mỡ vào ăn vừa ngọt vừa
béo. Ngày xa xưa, dường như mọi người đều tiết kiệm thực phẩm và tìm cách chế biến thành ra
nhiều món ăn, không phung phí như ngày nay. Và ngày nay, hiện tượng ăn « vệ sinh » con
người kiêng cử đủ thứ nhưng hiện tượng « béo phì » ngày càng nhiều !

Lần đầu gặp cô, tôi không còn là một cô gái ngây thơ mà đã là mẹ của hai đúa con. Nhưng không
hiểu lý do nào đưa đẩy, cô có một tình cảm đặc biệt đối với tôi. Thế là tôi và cô chuyện trò như «
pháo nổ » và cô cứ khen tôi nói chuyện « có duyên » nên sự có mặt của tôi, những câu chuyện
kể của tôi là cho cô cười « chảy nước mắt ». Cô nhìn tôi và cứ nói « con nói chuyện có duyên
như chú ba của con ». Lần đầu tiên được nghe một người trong gia đình bên nội khen và ái mộ
mình nên tôi cũng cảm thấy sung sướng. Cô so sánh tôi với chú tôi là một « quái kiệt », tôi cũng
chỉ nghe danh mà không có dịp gặp nhưng lòng cũng thấy vui vui.

Thế là từ đó mỗi khi có dịp lên SàiGòn, cô đều viết thư cho ngày ngày cô tới chơi với gia đình
nhỏ của tôi. Và những lúc rảnh rang, được nghỉ làm hay vào những dịp hè của hai nhỏ, tôi chở
hai bé trên xe Honda, lái trên con đường Quốc lộ, đầy những chiếc xe đò, chạy nhanh như « tên
bay ». Nhưng khi mình còn trẻ thì mình lại không biết sợ, lúc đó lái xe không có « mũ bảo hiểm »
như ngày nay. Hai bé ngồi ôm tôi phía sau, không có dây nịt an toàn. Tôi cứ lái xe phăng phăng,
chạy cũng « như bay », gió thổi ù ù hai bên tai. Đúng là sống thời nào mình cũng phải thích nghi
với hoàn cảnh và cứ sống theo kiểu « Điếc thì không sợ súng ».

Nhưng lúc, tôi muốn đưa hai con và hai cháu, con ông anh , thì phải đi xe xích lô, một người lớn
và bốn đứa con nít từ ba tuổi đến hơn mười tuổi đến bến xe, và leo lên xe đò để về làng Vĩnh Kim
thăm cô và cho mấy nhỏ được hưởng những ngày hè, được chạy nhảy tung tăng trong khu vườn
và được tha hồi ăn những trái « vú sữa Lò rèn » chín mộng.

Trái vú sửa tuy nhỏ nhưng vỏ thật mỏng và bên trong « thịt » trắng muốt và ngọt thơm như dòng
sữa mẹ. Ăn vú sữa, hái trên cây chỉ cần bẻ cuốn và bóp trái, ăn ngay gốc cây. Thật ngon và rất là
« bio », không có phân bón hoá học và cây lúc nài cũng sai quằn trái. Nếu không thì hái vào nhà,
rồi cắt vú sữa ra làm hai phần đều nhau và lấy muỗng múc ăn. Ăn vú sữa cũng là một nghệ thuật
vì phải cẩn thận để lừa những hột vú sữa đen nhánh và có hai đầu nhọn, nếu lỡ nuốt vào thì khá
nguy hiểm. Trường họp nuốt hột vào bụng tôi cũng ít nghe thấy. Nhưng cẩn thận hơn, thì với
người lớn tuổi hay với những trẻ con thì mình lấy muỗng múc ra và lấy hột trước khi ăn.

Xuống nhà cô, sau khi đi qua chào các anh chị cho phải phép, sau đó về nhà cô thì cô cứ bắt
những con gà chạy ngoài vườn và nhờ một người hàng xóm qua cắt cổ gà, nhổ lông. Chỉ có  một
con gà mà làm được rất nhiều món. Thịt lóc ra, bằm một ít củ hành, nêm nếm nước mắm, đường
tiêu, giá hoặc khoai môn xắt sợi, thêm vào những cộng bún tàu trắng trắng và dai, cắt ngắn, tất
cả những thứ trên trộn đều và cuốn thành những cuốn chả giò, cuốn lớn cho mau, và sau khi
chiên thì lại cắt miếng cho vừa miệng ăn. Chả giò có thể ăn với những cộng bún tươi, trắng
mưốt, chan nước mắm chanh, hái ngoài vườn. Máu gà và phần xương đã lóc thịt để làm chả giò,
phần này sẽ nấu canh bầu hay canh bí, nhà cô cũng có vài giàn bầu, dàn  mướp, thêm vào một
chút hành lá, cọng nhỏ và thơm ngạt ngào như câu ca dao « Ví dầu câu cá nấu canh ;  Bỏ tiêu
cho ngọt, bỏ hành cho thơm ». Một  phần khác thi làm gà kho gừng hay gà kho xã. Một con gà
mà nếu khéo tay thì mình được nhiều món ăn với nhiều khẩu vị khác nhau và ăn được nhiều
ngày.

Gừng và xả cũng là từ những bụi gừng và bụi xả lụi trong vườn và dường như không cần chăm
sóc gì đặc biệt mà trong nhà gần như có gừng và xả ăn quanh năm. Cô nói với tôi gừng và xả
cũng là những loại cây thuốc. Xả chống muổi, chống cảm. Gừng thì chống lạnh, chống ói. Khi
nào cảm thấy muốn buồn nôn thì xắt những lát gừng tươi cho vào chén nước trà đường, uống
vào thì cảm thấy khoẻ ngưòi. Khi nào bị cảm thì nấu một nước nưóc thật nóng, cho vào lá gừng,
lá xả, lá chanh. Ngồi trùm kín trong cái mền, mở hé nồi « nước xông », có thể cho thêm vài giọt
dầu khuynh diệp vào. Vài phút sau, mồ hôi tuông ra « như tắm », người nghe nhẹ nhàng, không
còn nặng đầu. Bởi thế mỗi lần có dịp ghé lên Sài Gòn, cô thường hay khệ nệ mang lên cho tôi
những nhánh gừng tươi, những bó xả, những túi vú sửa, những bó hành…tùy theo mùa, lúc nào
tôi cũng được những món quà « cây nhà lá vườn »

Ngoài vườn vú sữa còn có một cái võng bắt giữa hai cây vú sữa, dù là những buổi trưa hè nắng
gắt nhưng duối bóng râm củ những tàng cây vú sữa, với những ngọn gió thổi hiu hiu, không khí
tĩnh lặng của làng quê xa đường xe chạy ; chỉ cần nằm trên võng đu đưa nhè nhẹ là giấc ngủ sẽ
đến với mình thật dễ dàng ! Cuối vườn, mấy đứa nhỏ, kiếm những tấm mền giăng lên làm «nhà
chòi » để chơi đùa với nhau. Mấy bé vừa thích và vừa sợ, những lúc đi tiểu tiện trên cầu cất trên
hầm cá tra. Những đàn cá cứ phóng lên để ăn những « thức ăn phế thải » của người. Cá lớn
nhanh thì người lại ăn cá. Mấy bé cứ cười nắc nẻ mỗi lần phải đi cầu. Tiếng cười trong trẻo của
trẻ thơ, những mẫu chuyện « có duyên » của tôi mang lại cho cô những giây phút thật là ấm cúng
và đầy kỷ niệm.

Cô lập gia đình lúc trẻ nhưng không hiểu lý do ra sao mà khi gặp cô thì tôi thấy cô chỉ sống một
mình. Cô có nhắc sơ qua vể cuộc hôn nhân của cô, có cho tôi xem ảnh đám cưới. Cô rất đẹp,
mặc áo dài cưới màu trắng trên đầu cài vòng hoa cũng màu trắng. Chồng cô mặc bộ costume đen
rất là lịch sự. Co chỉ nói thoảng qua và dường như không muốn đi sâu vào câu chuyện nên tôi
cũng không dám tò mò hỏi thêm.

Có một lần cô nói với tôi. Cô không có con, từ ngày cô gặp tôi, cô thưong và hạp với tôi, cô nói
một ngày nào đó cô sẽ để lại miếng đất và ngôi nhà này cho tôi. Tình thương đặc biệt cô dành
cho tôi lớn dần theo năm tháng. Tuy nhiên hoàn cảnh và thời cuộc chuyển biến, tôi cũng như
nhiều gia đình khác, rời quê hương ra đi. Những ngày cuối cùng trên quê hương, cô từ dưới quê
lên, ở chơi với mẹ con tôi nhiều ngày và cô cứ rướm lệ khi thấy tôi thu dọn hành trang để ra đi.
Tôi tặng cho cô cái mền của tôi cho cô, cô chỉ lấy món đó thôi, ngoài ra cô không cần chi khác.
Hai cô cháu ôm nhau, mắt ai cũng rướm lệ nhưng cuộc đời luôn là « hợp rồi tan ».

Hơn mười năm sau có dịp trở lại quê hương, chiếc mền tôi để lại cho cô đã ngã màu và rách
nhiều nhưng cô đưa cho tôi xem và cười nói « Dù cũ nhưng cô vẫn giữ vì là kỷ niệm của con ».
Tóc cô đã hoa râm, năm đó tôi cũng có dịp đưa cô đi chơi một số nơi cùng với má tôi. Trên xe
mỗi lần tôi kể chuyện là cô cứ cười ra « nước mắt » và nói «  Con đi lâu mà cũng vẫn như xưa,
cô không thấy con đổi gì hết ». Cô hỏi bao giờ con trở lại thăm cô. Tôi nói chưa biết vì cuộc sống
bận rộn và khả năng tài chánh không cho phép tôi đi hằng năm. Cô nói «  thôi để bao giờ cô bán
bớt một phần đất rồi cô sẽ cho tiền vé máy bay về thăm cô » Tôi cũng không ngờ đó là lần chót
mà tôi gặp được cô vì vài năm sau đó, cô qua đời. Tiếc thay là ngày cô bịnh nặng và qua đời tôi
lại không về được để đưa cô đi lần cuối.

Một thời gian ngắn sau chuyến trở lại quê nhà. Một hôm tôi được người đưa thư mang lên nhà
cho tôi một thùng carton to tướng. Trong đó cô gởi cho tôi một bộ tự điển Pháp Việt, Việt Pháp,
Một quyển sách nấu ăn « Kỷ thật nấu nướng », của bà Nguyễn Thị Chơi và một áo manteau màu
đỏ (cô còn nhớ là tôi thích màu đỏ), đan tay rất đẹp. Đó là những kỷ niệm tôi còn giữ lại, và cũng
là gia tài cô để lại cho tôi. Co qua đời đã nhiều năm nhưng hình ảnh cô vẫn còn đậm trong tâm tư
của tôi !

Có phải chăng cô muốn tôi lúc nào cũng phải trau dồi hai ngôn ngữ Pháp Việt, nhưng cũng dừng
quên di chuyện bếp núc. Và cô cũng mong ước cho tôi lúc nào cũng được « cơm no áo ấm » nơi
đất khách quê người ?

DIỄM ĐÀO
(Paris ngày 11.11.2013)

(*).bongbvt.blogspot.com/2013/.../thuong-nho-ca-rang.h...

Theo blog kể trên thì tên gọi “cà ràng” xuất phát từ tiếng Khemer là “kran” hay “karan”, và dần
dần phát âm này biến dạng thành “cà ràng” ? Và theo nhà học giả Vương Hồng Sển trong quyể
“Tự vị tiếng Việt miền Nam” có ghi rằng Krôk kran là nơi tên là rạch Cái Răng. Và nơi đây ngày
xưa sản xuất ra nồi đất và bán dọc theo ven sông rạch. Với thời gian và từ âm Cái răng biến dạng
thành cà ràng”?