Culture et Pensees de Diem Dao
Một mảnh đời : đổ vỡ

Trong đóng courrier có một thư bằng tiếng Anh. Antoine, chồng tôi, đưa để nhờ tôi dịch dùm vì Antoine luôn nghĩ tôi là người thông minh,
giỏi ngoại ngữ. Thật ra vốn hiểu biết của tôi thật ít ỏi nhưng vì quý tôi nên Antoine vẫn cho tôi giá trị cao hơn sự thật.

Cầm thư lên đọc, cố gắng vận dụng vốn tiếng Anh còn sót lại. Rốt cuộc tôi cũng hiểu được một nội dung bức thư. Đây là lá thư của một
hãng Bảo hiểm của bên bị đụng xe về tai nạn xe hơi của Jean, con trai của Antoine trong chuyến đi Hè ở vùng Bretagne.

Mỗi khi có việc cần phải sử dụng vào sự hiểu biết, thì tôi cảm thấy sự thiếu sót của mình. Thực ra kiến thức là một sự trau dồi, học hỏi
không ngừng. Dừng lại một thời gian là mình có cảm giác đi lùi, lạc hậu!

Trong cuộc sống tôi luôn luôn cố gắng tìm hiểu, học hỏi, tận dụng thời gian để mà vươn lên. Tuy nhiên mười năm lưu lạc trên đất khách tôi
vẫn chưa tìm cho mình có một chỗ đứng trong xã hội, dù là một chỗ dứng rất nhỏ nhoi, và tầm thường.

Nhớ laị lúc bước chân vào ngưỡng cửa Trung học, năm mười hai tuổi. Thi đậu vào trường Gia Long, một trường Trung học công lập nổi
tiếng là lớn nhất ở Sài gòn. Nói sao cho được niềm hãnh diện và sung sướng của tôi. Lòng tự nhủ lòng là phải ít nhất đoạt cho được bằng
tú tài, và sẽ trở thành Luật sư hay ít ra cũng là Giáo sư ngoại ngữ như Má tôi. Thuở đó nghề giáo rất được tôn trọng và có một chỗ đứng
cao trong xã hội.

Tôi cũng tự hỏi tại sao mình lại thích nghề Luật sư, có lẽ vì tính “ háo thắng” hay là bộ áo ra trường Luật? Quả thực, thuở còn đi học, mỗi
khi có chuyện tranh luận với bạn bè, tôi luôn luôn tìm đủ mọi lý lẽ; bằng đủ mọi cách cho đối thủ phải thua và đuối lý. Những hôm không tìm
ra được lý để thắng, tôi ngủ không được, suy nghĩ tìm ra giải pháp, đôi khi tìm ra được thì lại không có cơ hội để thắng cuộc thì lại tự nhủ
lòng, lần sau ta phải nhanh trí hơn để thắng!

Lúc đó cuộc đời dưới cặp mắt của cô gái tròn trăng thật là giản dị, muốn thành Luật sư là phải biết cãi lý. Dần dần lớn lên theo dõi báo chí,
có những vụ kiện đâm chém giết người, có những người Luật sư phải binh vực cho những người sát nhân. Tôi không hiểu việc làm đó có
đúng không? Và khi nhận cãi để binh vực cho những người phạm pháp vì tiền thì lương tâm của mình có bình yên không? Do đó tôi bỏ ước
muốn trở thành Luật sư dù rằng bộ áo ra trường đối với tôi có sức hấp dẫn.

Năm Đệ tứ, năm chuẩn bị thi bằng trung học đệ nhất cấp và cũng là năm mà tôi có rất nhiều tiến bộ trong chuyện học, kết quả tôi đậu với
hạng “bình thứ “, và cũng là sự động viên cho tôi trong những năm học sắp tới.

Tự biết mình không có nhiều trí nhớ, tôi tự tìm ra cho mình một phương pháp học cho phù hợp với mình, viết ra giấy những điều cần nhớ,
chép đi chép lại nhiều lần. Thí dụ như môn Pháp văn, để có thêm vocabulaires, các luật về văn phạm hoặc toán, lý hoá, vạn vật.. tôi học
bằng cách viết ra giấy.

Thế mà mỗi lần đến giờ đi học tôi luôn có cảm giác không yên tâm và luôn lo sợ khi Thầy Cô gọi đến tên. Tôi luôn luôn thiếu tự tin và hay lo
sợ vẩn vơ nhưng ít khi tâm sự cùng ai.

Má tôi là Giáo sư Anh và Pháp văn, ai cũng tưởng do đó mà tôi giỏi về ngoại ngữ, thật là oan ức vì tôi không được thừa hưởng sự thông
minh và sự chăm sóc của cha lẫn mẹ vì những lý do riêng của hoàn cảnh gia đình. Có đôi lúc tôi có cảm tưởng như anh em tôi lớn lên như
cây cỏ nhờ thiên nhiên!

Tôi thấy mình có một cuộc sống gia đình không giống như một số gia đình bình thường. Tôi không bao giờ thấy sự có mặt của ba tôi hằng
ngày, chỉ được biết ngang qua thư từ, hình ảnh. Má thì tôi chỉ được gặp trong những buổi cơm vội vàng vì Má tôi ngoài giờ dạy chính thức
ở trường Gia long, lai còn phải dạy thêm ở những trường tư hoặc dạy nơi các tư gia. Tôi còn nhớ Má tôi lúc đó có chiếc xe Vélo Solex màu
đen để đi dạy. Nhà tôi ở gần chợ Vườn chuối, có cổng xe lửa. Một hôm trên đường trở về nhà, trời mưa tầm tả, bánh xe trơn trợt, Mà tôi bị
trật đường rày ngã xuống đường, may mà lúc đó không có xe lửa chạy ngang qua. Từ đó Bà Ngoại không muốn Má đi bằng xe Vélo nữa
mà đi bằng xe cyclo. Má tuy có gia đình, có con nhưng lúc nào cũng rất nể Ngoại. Ngoại là người Bà chăm lo cho con cháu, vừa là người
mẹ, vừa là người Cố vấn, quản gia của Má, nhờ vậy Má mới yên tâm đi làm việc để lo anh em tôi.

Có lẽ phần vì mệt mỏi trong cuộc sống, và cũng có phần vì tôi chậm hiểu nên tôi vẫn ngại khi nhờ Má cắt nghĩa bài. Hỏi hai người anh thì
thường bị mắng là “ngu” quá. Sự mặc cảm đó càng lớn dần và tôi phải mất nhiều thời gian tự học để bắt kịp chúng bạn và thoát ra khỏi phần
nào mặc cảm đó.

Ông anh cả rất giỏi Pháp văn, thỉnh thoảng cắt nghĩa văn phạm, đọc chính tả cho tôi nhưng không thường xuyên lắm vì anh ấy ngoài giờ học
ở trường Pétrus Ký còn phải học đàn Violon ở trường Quốc gia âm nhạc, thời gian dợt đàn cũng rất nhiều vì ông Thầy rất khó, có nhiều
hôm tôi thấy anh tôi bật khóc vì chưa dợt đàn đủ giờ. Bên cạnh đó còn có Cô giáo (đồng nghiệp của Má) đến kèm Toán, Lý hoá vì năm đó
anh tôi phải thi Tú Tài. Chưa kể anh còn học thêm Pháp văn, bởi vậy tôi cũng không dám làm rộn mà thật ra chắc anh cũng không có giờ
rảnh.

Môn toán thì tôi hoàn toàn dốt đặc. Ông anh thứ nhì giỏi về môn nầy, nhưng có lẽ thiếu kinh nghiệm giảng dạy hoặc vì tôi kém thông minh
nên tôi nhớ mỗi lần tôi không hiểu và trả lời sai là bị mắng “ ngu như bò “. Chỉ cần bao nhiêu đó là lòng tự ái cá nhân đùng đùng nổi lên. Và
lòng tự ái to hơn cả nổi lo sợ cũng như sự xấu hổ khi bị kêu lên bảng sũa bài và bị “đứng như trời trồng”. Lúc đó tôi thà bị điểm xấu còn hơn
là bị mắng. Lại nữa các cô giáo là bạn đồng nghiệp của má thì sự xấu hổ của tôi tăng lên gấp bội.

Lớp học cũng như một xã hội thu nhỏ lại, cũng có sự phân chia giai cấp: những học sinh giỏi tụ lại thành một nhóm ngoài ra còn lại phân
chia giỏi và giàu, khá giả, giỏi mà nghèo, học sinh dở mà giàu, học sinh dở mà nghèo...

Tôi được xếp vào thành phần trung lưu. Vì dù sao má tôi cũng là một Giáo sư của một trường trung học lớn, nhưng tôi đúng “có tiếng mà
không có miếng” Vì dù là một giáo sư mà con đông lại thêm một người mẹ không lợi tức, lại không được trợ cấp giúp đỡ của ba tôi thời
gian đầu còn lận đận trên xứ người (!?)
Do đó tôi không có được những chiếc áo dài mắc tiền, những chiếc áo dài lụa hay nylon mà chỉ là những chiếc áo dài vải thô sơ, rẻ tiền.
Ngoài mặc cảm học dở lại “nghèo “, do đó tôi không biết mình được xếp vào loại nào? Sự mặc cảm kéo dài trong suốt ba năm đầu của
thời trung học: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ. Tôi cảm thấy như bị cô lập nhưng không biết tỏ cùng ai? Sự mặc cảm thua thiệt bạn bè đeo đẳng tôi
trong suốt ba năm liền và có lẽ vẫn còn tiềm tàng trong tôi ngay cả bây giờ, tôi luôn luôn thiếu tự tin. Nhưng lòng tự ái đã giúp tôi thêm sức
mạnh, can đảm. Tôi bắt đầu chăm học hơn, cả ngày chỉ vùi đầu vào sách vở học các môn như định luật, định lý Toán, các phản ứng hóa
học, môn Vạn vật, lịch sử, Địa lý., Vocabulaires, luật văn phạm... Đó là những môn mà không cần đòi hỏi sự thông minh, chỉ cần có trí nhớ,
tôi cố gắng vượt qua những điểm yếu của mình, có nhiều đêm tôi thức đến sáng để ôn đi ôn lại những gì tôi đã học, chép lại các tập vở cho
sạch để được thêm điểm giữ tập sạch.

Dù sao sự cố gắng đó cũng không vô ích và cũng không làm cho tôi tuyệt vọng, kết quả cuối năm Đệ ngũ tôi được xếp vào học sinh khá.
Thực ra cũng không có điều gì bí mật để giúp ta trở thành học sinh giỏi cả. Ngoài sự siêng năng, có một chút thông minh nhưng nếu gia
đình có điều kiện mướn thầy về nhà dạy kèm hoặc được học thêm ở các lớp huấn luyện thì dĩ nhiên kết quả sẽ khả quan hơn những học
sinh thiếu điều kiện về tài chánh.

Chuẩn bị lên năm Đệ Tứ, là năm phải thi bằng Trung học đệ nhất cấp, trước khi bước vào ngưỡng cửa Trung học đệ nhị cấp. Thời gian nầy
với bằng Trung học, có những học sinh vì hoàn cảnh không tiếp tục học lên cao thì cũng có thể tìm việc làm hay chuyển qua học nghề. Năm
đó là năm 1964; bằng Trung học được tổ chức thi như bằng Tú tài, phải trãi qua kỳ thi viết và thi vấn dáp.

Cũng nhờ nhưng ngày đêm cố gắng tự học, những ngày hè tôi đi mướn sách đọc. Tôi có nhỏ bạn hàng xóm, gia đình khá giả nên được học
trường đạo, thời đó nhũng trường đạo như Thiên Phước, Taberd, Saint Paul...là những trường tư, ngoài chương trình theo bộ quốc gia
giáo dục, học sinh được học Pháp văn ngay từ tiểu học. Cũng nhờ nhỏ bạn nầy mà tôi ráng học tiếng pháp, vì trong thời gian hè, tôi sang
nhà nó, có tấm bảng đen, chúng tôi chia tấm bảng ra làm hai, rồi mỗi đứa ghi những từ tiếng Pháp mà mình biết rồi đổi nhau để điền nghĩa
vào, hoặc một đứa bắt đầu một chữ người kia phải thêm chữ vào cho đến khi thành một chữ có đủ nghĩa. Cũng nhờ vào lòng háo thắng mà
tôi phải có gắng học vocabulaires, và cũng nhờ trò chơi nầy mà sau nầy tôi được “giàu “ thêm phần ngữ vựng!

Phần an ủi rất lớn cho “sự dồi mài kinh sử “. Năm đó tôi đậu bằng Trung học với ban khen bình thứ. Tôi cởi mở phần nào mặc cảm và có
được nhiều bạn bè hơn, và từ đó tôi theo các bạn ghi tên đi học thêm các môn Toán, Pháp văn, và đó cũng là sự cố gắng của Má và Ngoại
vì tôi biết có những giai đoạn khó khăn nhất là mùa tựu trường phải mua sắm sách vở, quần áo mới!

Tôi còn nhớ mỗi lần xin tiền đóng tiền học là mỗi lần tôi cảm thấy khổ tâm và lo âu vì tôi biết Má đi làm cực khổ lại không dư dả gì, ngoại là
người quản lý tài chánh vì vậy mỗi lần xin tiền đóng tiền học là bị Ngoại cằn nhằn lý do là vì tài chánh eo hẹp chứ ngoại rất thương tôi và
luôn làm cho tôi vui lòng: “ Học trong trường bộ không đủ sao mà bày đặt đi học thêm  ở ngoài hay là theo chúng bạn đi nhỏng nhảnh ngoài
đường”

Ngoại là người của thế hệ trước, lại thêm tánh Ngoại hay lo nên không hiểu được những đổi thay của xã hội. Dù sao lòng đã quyết, tôi cố
gắng thuyết phục, hứa hẹn đủ thứ để Ngoại xiêu lòng vì dù sao tôi biết Ngoại ít khi từ chối, có thể tôi là đứa cháu mà Ngoại dành nhiều tình
cảm đặc biệt vì dưới cặp mắt Ngoại tôi là một đưá nhỏ lanh lợi, khôn ngoan, chứ Ngoại đâu có thấy được những mặc cảm rất lớn trong tôi.
“Không phải đâu Ngoại, tụi bạn con đứa nào cũng đi học thêm nên đứa nào cũng giỏi cả. Lại nữa nếu muốn thi đậu phải học thêm ít nhất là
môn toán. Con hứa với Ngoại là con sẽ đi học đàng hoàng, sẽ về nhà đúng giờ và cuối năm con sẽ thi đậu. Có Yến đi học chung với con
nữa mà “. Yến là bạn thân của tôi lúc đó và là đứa bạn mà Ngoại cũng có cảm tình đặc biệt vì Yến là một cô gái dịu dàng và rất lễ phép lại
xinh đẹp và học giỏi, và cũng là người con gái mà ông anh tôi “thầm yêu trộm nhớ “. Yến là người chị dâu “hụt “mà Ngoại rất tiếc.

Những khó khăn về kinh tế, những nỗi buồn của đứa bé không đủ cha đủ mẹ như phần đông bạn bè, tôi thường tự nhủ lòng là phải cố gắng
học cho có nghề nghiệp vững chắc, để con mình không phải lâm vào cảnh của mình, khi lập gia đình nhất quyết phải vững lòng xây dựng
một gia đình đầm ấm. Nhưng rồi tôi lại lâm vào hoàn cảnh tương tự, con tôi cũng lớn lên trong sự vắng bóng người cha và trong một hoàn
cảnh kinh tế eo hẹp, tôi lại đi vào vết lăn của chiếc xe đi trước?

Sau khi thuyết phục được Ngoại, tôi bắt đầu tự đặt cho mình một kỹ luật, một thời khóa biểu thật “gắt” và tôi thực hiện được. Tất cả thì giờ
tôi chỉ tập trung cho chuyện học, từ chối những buổi đi chơi với bạn bè, với gia đình nếu bài chưa làm xong. Trời không phụ lòng tôi thi đậu
với “sự ban khen”. Tôi hãnh diện và sung sướng vì thực hiện được lời hứa với ngoại. Tôi nhớ lúc đưa bằng ra khoe, Ngoaị nhìn tôi cười
sung sướng và gục gặc, tuy nhiên Ngoại hay thường nói ngược với tình cảm của mình:
-“ Ối dễ ợt chú có khó gì đâu.Tao “khịt “ một cái là xong ngay”
Nói xong Ngoại cười thích thú và móc tiền ra thưởng. Ngoại và tôi rất hiểu và có thể là hợp tánh nhau nên tôi là đứa cháu mà được Ngoại
cưng (theo cách của Ngoại).

Và cũng bắt đầu từ đó tôi cảm thấy tự tin hơn và chợt khám phá là mình có năng khiếu viết văn và sinh ngữ. Các bài luận văn, bình giảng
của tôi thường được cao điểm và được đọc lên cho cả lớp nghe. Mỗi lần phát bài là tim tôi đập nhanh, mặt tôi đỏ lên vì xúc động, tôi phải
dằn sự xúc động để đọc bài của mình cho có “hồn “. Và từ đó thỉnh thoảng tôi gửi bài đăng báo, có thêm được chút đỉnh tiền túi. Tôi nghĩ
sự tiến bộ về văn của tôi có thể là kết quả của những tháng hè đọc sách thay vì chạy rong ngoài đường phố với chúng bạn?

Nhỏ bạn hàng xóm, Thu Thảo, không biết nó có thông minh không nhưng chắc một điều là nó có ông “Bố “ rất gắt và chịu khó kềm toán, cắt
nghĩa bài cho nó mỗi buổi chiều và mùa nghỉ hè, mỗi ngày nó phải làm thật nhiều bài tập Toán, Pháp văn, đọc sách. Tôi bắt chước nó mua
sách có sẵn bài giải về nhà tự mò mẫm làm một mình, mua sách tiếng Pháp về đọc, không hiểu thì lại mò mẫm tìm chữ khó trong tự điển.
Cũng phần nhờ tánh háo thắng mà dần dần tôi có được sự tiến bộ trong chuyện học. Đúng là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng “

Thuở đó giỏi tiếng Pháp tức là biết nhiều ngữ vựng, giỏi luật văn phạm. Tôi còn nhớ, nhà nhỏ Thảo, ông bố có đóng cho một tấm bảng đen
rất lớn và rộng. Mỗi ngày ông ghi trên bảng vài chục chữ trước khi ông đi làm và chiều thì ông dò bài. Tôi cũng bắt chước nhưng không có
bảng thì tôi học bằng cách chép ra giấy.

.
“Ông Bố “ là Sĩ quan công chức, sáng đi tối về, tôi còn nhớ ông có chiếc Honda đỏ, Mẹ Thảo là Y tá ở bịnh viện Bình dân, bà thường đi làm
bằng xe Vélo solex, đầu tóc lúc nào cũng vén khéo, bới kiểu rất đẹp, mũi nhỏ, gọn, và có nụ cười tươi và lại khéo léo, những ngày chúa
nhật bà đi lễ nhà thờ nới các con, đều ăn mặc thật đẹp, và quần áo của các con do tự tay bà may lấy.

Anh chị em Thảo đều đi học trường tư và là trường đạo. Thời đó có một số trường Tư và nhất là trường đạo thường có kỹ luật rất nghiêm
khắc, ngaòi chương trình bắt buộc của Bộ Giáo dục phải theo, họ còn dạy Pháp văn ngay từ bậc tiểu học nên những học sinh đó khi đậu
vào các trường Trung học thường là những đứa rất giỏi về Pháp văn và thường đứng đầu lớp về môn nầy.

Suốt năm học chúng tôi không được gặp nhau, chỉ hỏi thăm nhau qua hàng rào mà thôi. Gặp nhau trong thời gian hè với điều kiện là Thảo
phải làm cho xong những bài tập toán mà ông giao cho vì năm đó là năm Thảo thi tuyển vào trường Trưng Vương và cũng là năm chót
Hằng được ở xóm này.
Lúc nhỏ thấy sự lo lắng dạy dỗ của ông Bố mà tôi rất thèm thuồng, mơ ước và thèm có được “người Bố “ như vậy dù rằng ông bố sẵn
sàng kéo lỗ tai và quất roi mỗi khi Thảo xao lãng học vì đối với ông, chuyện học là điều đứng hàng đầu!

Vào tháng Hè, tôi và Thảo có thói quen đi bộ ra tiệm cho thuê sách, mỗi đứa mướn sách về nhà, ngồi trên bệ cửa trước nhà, bắp luộc mua
về, lãi ra từng hột, bỏ đầy túi áo, vừa ăn vừa đọc sách. Đọc chán rồi chơi “đố chữ “. Tấm bảng đen được chia ra làm hai và mỗi đứa viết
những từ ngữ tiếng Pháp mà mình biết, rồi đổi chỗ nhau để mỗi người điền nghĩa vào. Dĩ nhiên tôi học chương trình Việt nên tôi thường
thua. Và vì bị chạm tự ái, vừa buồn, vừa tức, tôi để dành tiền túi mua sách tiếng Pháp về tự học. Có thể nhờ những trò chơi và sự ganh
đua nhu vậy mà năm sau đó tôi được xếp vào học sinh giỏi Pháp văn và Việt văn.

Bắt đầu từ đó những giờ đi đến trường không còn là những giờ bị “tra tấn “ mà là những giây phút vui vì được gặp bạn bè mà mình không bị
thua sút như xưa.

Và cũng là giai đoạn đánh dấu sự đổi thay của những ước mơ và dự tính của tuổi thơ vì là năm tôi chập chững bước vào “ngưỡng cửa tình
yêu”. Lưá tuổi tròn trăng của năm 1964, không hiểu vì bị lôi cuốn theo bè bạn, hay là giai đọan của tuổi dậy thì, tôi đã bước vào chuyện yêu
đương mộng mơ quá sớm và bắt đầu xao lãng học hành. Thời đó nam và nữ học riêng, cơ hội cho trai gái gặp nhau rất hiếm.

Có lẽ phần nào bị ảnh hưởng vào những bài ca ủy mị, những loại tiểu thuyết khóc than cho những cuộc tình tan vỡ, và là năm mà Saìgon,
các thanh niên bắt chước theo xã hội phương tây, nên phong trào mở các “bal de famille”, những nhóm trẻ tụ tập nhảy đầm và những ban
nhạc trẻ thay nhau mọc lên như nấm và đa số lớp trẻ thích lấy tên ngoại quốc. Có lẽ là vào giai đoạn đồng thời với ban The Beatles, bên
Anh, và những ca sĩ nổi tiếng của Pháp tràn sang Việt nam như Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Jhonny Hallyday; Shella...Trên đài truyền
thanh lúc đó còn có chương trình “Nhạc yêu cầu”để cho trai gái bày tỏ “tình yêu gián tiếp” bằng cách yêu cầu những bản nhạc tình để tặng.
Tôi còn nhớ tôi cũng được tặng những bài như thế, và cảm thấy vui vui vì có người để ý đến mình.

Câu chuyện gặp gỡ của tôi với Quân, không biết có phải là “duyên số” hay không? Hay là cũng phải có sự tham gia của mình vào?
Quân là học trò của anh Trường, người anh họ. Môt hôm anh Trường đến nhà đưa thiệp mời Má tôi cùng ông anh Ba đi dự đám cưới. Sau
lễ rước dâu ở tận Mỹ Tho, chiều lại có buổi tiệc khiêu vũ. Thời đó, những đám cưới có khiêu vũ gần như là thời trang. Tôi chỉ mới có 14 tuổi
nên không được mời, nhưng ông Anh Ba biết tôi thích đi vì anh mới dạy tôi “nhảy đầm”, có thể phần vì anh cũng muốn tôi đi theo cho có
bạn. Anh năn nỉ cùng anh Trường là tôi sẽ phụ lo mời khách..Cuối cùng anh bằng lòng, vã lại căn nhà anh mướn để làm tiệc khiêu vũ rất gần
nhà tôi. Nói sao niềm vui của tôi lúc đó, vì được thực tập nhảy những điệu mà anh tôi chỉ: slow, rumba, tango..Vì lúc đó biết nhảy coi như là
người “văn minh” và nói nôm na là “chịu chơi” . Lần đầu tiên được đi dự tiệc như một người lớn, má tôi dẫn tôi đến tiệm may rất nổi tiếng, ở
Dakao tôi còn nhớ tên là Prestige, chủ tiệm có bà con sao đó vơi gia đình , dĩ nhiên là lấy giá phải chăng nhưng tôi biết đối với má cũng là
sự hi sinh.
Tôi gần như đếm từng ngày chờ đến buổi tiệc hôm đó. Hôm đó, tôi tắm rửa sạch sẽ, bôi một ít nước hoa của Má, tôi vẫn còn nhớ hiệu
Intimate. Một jupe droite màu xám, một chemise màu xanh nhạt, rất mode và trang nhã. Tôi có mài tóc dài đen nhánh thả ngang vai. Tôi
còn nhớ hôm đó tôi để bandeau màu xanh cùng màu với áo. Nhìn vào gương, tôi thấy mình “đẹp” hơn thường ngày.
Hai anh em tôi đi bộ đến sớm để phụ phần “tiếp khách”. Đây là một căn villa có sân, nằm khuất bên trong. Từ xa chúng tôi đã nghe văng
vẵng tiếng nhạc, hai anh em tôi nôn nã đi nhanh đến. Môt ban nhạc với dàn trống và những nhạc sĩ với guitare điện đã bắt dầu dợt và kiểm
tra âm thanh.
Tôi e dè đứng nhìn ban nhạc trong ánh sáng mờ ảo, lòng rộn một niềm vui. Tôi thử nghe và đoán xem là điệu gì vì anh tôi đã tập cho tôi
biết phân biệt những điệu nhạc.
Một cậu thanh niên trẻ trong bộ costume, có thắt cravatte, bước ra chào tôi và hỏi tôi muốn có “việc làm” không? Tôi mỉm cười trả lời bằng
cái gật đầu và bỗng nhiên nhớ ra nhiệm vụ của mình là phụ giúp phần đãi khách.
Cậu thanh niên nầy là Quân, tôi đi theo Quân ra phiá sau nhà, lo sắp bánh ra dĩa, sắp ly, khăn giấy...Một giờ sau mọi việc gần như xong,
ngòai Quân ra còn có thêm một vài học trò của anh Trường. Khách lần lượt đến, chúng tôi chạy không bén gót bưng bánh nước mời khách.
Sau đó cô dâu và chú rễ ra piste gọi là “ouvrir” bal. Thế là mọi người lần lượt bước ra sàn nhảy. Tôi ngồi bên cạnh anh tôi, nhưng anh tôi
tìm được người để mời nhảy nên quên hẵn đứa em của mình. Thỉnh thoảng khi đến điệu « Cha cha cha », anh cũng chịu khó nhảy với tôi
cho tôi đỡ buồn. Ban nhạc chơi luân phiên các điệu. Lúc sau đến điệu slow, tôi vẫn còn nhớ là bản « Tôi đưa em sang sông ». Quân ngập
ngừng đứng lên mời tôi nhảy, tôi đưa mắt nhìn ông anh thì anh tôi gật đầu đồng ý vì thực ra lúc đó anh tôi tìm được một cô bạn gái khá
xinh.  Lúc đó tôi không có ý nghĩ gì đặc biệt mà chỉ thích thực tập các điệu mà đã học với anh tôi và để tỏ ra với các bạn là mình « văn minh
» vậy thôi. Tôi vẫn thích nhất là nhảy Twist, điệu nầy rất thịnh hành vào thời nầy. Tôi còn nhớ người nhiếp ảnh có chụp hình tôi đang « biểu
diễn », và Quân đã tìm mua để mang lại tặng tôi để làm quen sau đó.

Tôi cũng không hiểu vì sao khi tiệc gần tàn Quân đến xin tôi địa chỉ, tôi lại quay sang ông anh hỏi ý kiến không hiểu sao anh tôi lại gật đầu
đồng ý, nếu lúc đó mà anh tôi lắc đầu thì tôi cũng không làm gì khác hơn thôi. Thực ra lúc đó tôi cũng không có để ý Quân nhiều lắm, có thể
vì tôi không « hạp nhãn » lắm vì theo tôi thì cách ăn mặc của Quân hơi « quê quê » Và sau nầy khi trở thành « người yêu » tôi hướng dẫn
cách ăn mặc, cách để tóc cho hợp với ý của tôi.
Năm nầy là năm thi Trung học, tôi trở thành học sinh khá của lớp nên tôi rất hăng say học và dĩ nhiên cũng nhờ thế mà tôi có một nhóm bạn
thuộc vào thành phần học sinh giỏi và « chịu chơi » nghĩa là ngoài chuyện học chúng tôi vẫn có bạn trai, lúc nầy gần như là « mode ».
Chúng tôi, một nhóm bạn : Oanh, Xuyến, Vỵ, Phượng, Phụng, Lượng,. Chúng tôi tự lập cho mình hội gọi là « Des jeunes filles mystérieuses
et dangereuses », đó phải chăng là thời của tuổi dậy thì. Vào những ngày cuối tuần chúng tôi hay đi xem phim, hoặc đi chơi xa, có hôm đi
đến khu vườn đầy chôm chôm của gia đình Vỵ. Đi chơi nhưng sau đó chúng tôi lại lao đầu học ngày đêm nên cuối năm chúng tôi thi đậu cả
với mention.

Năm đó anh tôi chuẩn bị thi Tú tài I, anh tôi rất giỏi toán, thông minh nhưng thiếu siêng năng và chuyên cần nên khi thi thường phải thi lại kỳ
nhì nhưng luôn luôn thi đậu. Anh tôi « thầm yêu » Yến, bạn thân của tôi nên vì muốn có cơ hội gặp Yến nên một hôm anh bảo là trong lớp
anh có hội « Les dragons » và anh đề nghị cho hai hội gặp nhau. Hôm đó chúng tôi hùn tiền lại và tổ chức buổi họp mặt tại nhà tôi. Tôi còn
nhớ Má tôi khi đi du học bên Mỹ vào năm 1961, Má có mang về máy Pick-up nghe nhạc, thời nầy rất ít nhà có được những máy nầy, chỉ trừ
một số nhà giàu. Hôm đó, chúng tôi ăn bánh, uống nước và nghe « nhạc ngoại », cũng là « thời trang ». Hôm đó Quân cũng được tham dự,
vì Quân đã lấy được cảm tình của anh tôi. Do sự sắp xếp của anh tôi để « làm mai » bạn của tôi cho bạn của anh, cuối cùng chỉ có một cặp
nên vợ chồng là Phượng và anh Nghĩa, bạn cùng lớp với ông anh tôi.

Từ sau ngày cưới của anh Trường tôi vẫn không thấy Quân đến gặp tôi như đã hẹn, dù không thích Quân lắm nhưng tôi cũng cảm thấy tự ái
bị va chạm, nhưng dần dần quên lời hẹn đó. Một hôm vào một buổi chiều thứ bảy từ nhà Yến về, Bà Hai, người giúp việc bảo rằng có
Quân đến tìm và hẹn sẽ dến vào thú bảy tuần sau.

Kể ra sự có mặt của Quân trong cuộc đời của tôi vào lúc đó cũng đúng lúc vì tôi rất cần tình thương, sự chăm sóc. Lớn lên trong sự vắng
mặt người cha, mẹ thì quay cuồng trong sự mưu sinh. Ngoại là người gần như thay thế cho ba và mẹ tôi vào thời thơ ấu. Ngoại rất thương
và lo lắng cho tôi, nhưng ít thể hiện tình thương bằng sự âu yếm vì Ngoại là người đàn bà cứng rắn ; ít bộc lộ tình cảm của mình. Má tôi
cũng ít nhiều giống Ngoại. Tuy nhiên mỗi khi tôi ngã bịnh, trong cơn sốt mê man, giật mình tỉnh dậy luôn luôn có mặt ngoại với bàn tay mát
rượi. Và lúc đó tôi đuợc ăn tất cả những món ngon vật lạ mà tôi thích và Ngoại luôn luôn « lăm răm » cầu nguyện trên tay luôn có xâ chuỗi :
« Cầu xin Chúa và Đức mẹ cho con tôi là TTTT được mau hết bịnh ».

Chúng tôi quen nhau vào lứa tuổi đôi tám. Quân là  một cậu thanh niên hiền lành, nhút nhát. Con của một gia đình nghèo, nhiều mặc cảm, có
lẽ vì vậy mà ít nói, chỉ bày tỏ tình cảm của mình bằng những cách gián tiếp : những cái nhìn lặng lẽ mà Bà Vú tôi hay đùa : « Trời ơi cái
thằng gì mà suốt ngày không thấy nó nói gì, chỉ thấy nó « trợn trừng con mắt lên nhìn ».

Thế là từ đó Quân đến vào chiều thứ bảy và lần nào cũng mang lại cho tôi tờ báo Tiền phong mà tôi thích đọc bên trong có kèm một bức
thư tình mộc mạc và chân chất. Lúc đầu Quân rất ít nói và rất lễ phép nên bà ngoại có cảm tình nhờ vậy mà tôi không bị ngăn cắm. Mỗi
sáng trên đường đi đến trường, tôi đã thấy Quân ngồi trên chiếc xe Mobylette, dựa vào cột đèn để chờ tôi đi ngang và dúi vào cặp khúc
bánh mì Hương lan, rồi phóng xe bỏ chạy, tôi  không kịp phản ứng.

Hằng tuần Quân xin phép gia đình đến gặp tôi vài những chiều thứ bảy. Mỗi lần đến đều mang theo những món quà nho nhỏ như bánh ngọt,
kẹo, trái cây, dầu thơm, những bài thơ tình…Quân là con một gia đình công nhân nghèo nhưng được người mẹ thương, bảo bọc, hi sinh.
Bà dù nghèo nhưng không bao giờ để cho con bà thiếu thốn. Sau ngày cưới tôi mới được biết là tiền bà cho, Quân không dám tiêu xài ;
nhịn ăn, nhịn uống để có tiền cuối tuần mời tôi đi xem phim, ăn nhà hàng ; mua cho tôi những món quà thực mắc tiền, tôi vẫn còn nhớ chai
dầu thơm hiệu Dior. Mỗi khi tôi giận thì chỉ ngồi yên lặng « khóc ». Tôi nhớ có một lần tôi  ghen với các cô bạn gái của cô em chồng,vì bị
chạm tự ái tôi quyết cắt đứt liên lạc. Quân đến ngồi cả buổi, khóc lóc, năn nỉ, và cuối cùng mang lưỡi dao lam ra cắt tay, nhưng chỉ cắt một
phần đầu của ngón tay cho chảy máu để « dọa ». Tôi là cô gái nhiều tình cảm lại ngây thơ, lòng tự ái được thoả mãn, vuốt ve và nghĩ đó là
cách biểu hiện « tình yêu chân thật và nồng nàn ». Và tôi cũng đã ngây thơ nên giữ « một cách trân trọng  những giọt máu tình yêu » trên
chiếc khăn trắng thật lâu vì nghĩ đó là « chứng cớ của tình yêu ».

Kể từ đó tôi cảm thấy mình « đã yêu » và « được yêu ». Lại nữa sự hiền lành, ít nói của Quân đã đáng trúng phần nào tâm lý của Ngoại ; và
chính Ngoại là người hưởng ứng và ủng hộ cho cuộc tình của chúng tôi.
Sự quan hệ của chúng tôi cứ như thế, sự kiên nhẫn của Quân làm cho tôi cảm động lại nữa chung quanh các bạn tôi gần như đứa nào cũng
có « một người ái mộ ». Năm đầu tôi vẫn còn học rất giỏi, cuối năm đệ Tam tôi được phần thưởng và ban khen nên Ngoại và má tôi yên
lòng.

Năm sau nữa thi Tú Tài một cả hai người đều thi đậu Tú tài, và theo ý của gia đình thì sau khi có Tú tài đôi tôi sẽ sang Pháp ở với ba tôi.
Không hiểu có phải vì lý do đó mà Quân không muốn đi học nữa và xin ghi tên vào trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức để hi vọng có tiền và
chúng tôi làm đám cưới. Lúc đó vào năm 1967, có lẽ là giai đoạn chiến tranh gay go, ác liệt giữa hai miến Nam Bắc cho nên gần như tất cả
thanh niên trong miền Nam đều phải « thi hành nghĩa vụ quân sự » một thời gian rồi mới tiếp tục học hoặc trở thành những người lính
chuyên nghiệp.
Tình yêu của chúng tôi được kết thúc bằng cuộc hôn nhân dù rằng đôi bên gia đình không hoàn toàn hưởng ứng, vì mỗi người đều có lý do
riêng để gọi là hãnh diện về con của mình. Ngay cả Má của Quân vì quá « yêu con mình » nên đánh giá con của bà rất cao ; nghĩ rằng  một
Sĩ quan, trẻ tuổi, đẹp trai thì sẽ cưới dễ dàng những cô con gái giàu có sang trọng. Sau khi đã thành con dâu, bà vẫn thường kể cho tôi
nghe những cuộc « hứa hôn hụt hay tưởng tượng » của bà. Do đó, ngay từ buổi đầu giữa tôi và bà đã có một hố sâu. Về phần Má tôi thì
nghĩ rằng tôi đủ khả năng để học xa hơn và cao hơn vì ba tôi đã đồng ý mang tôi sang Pháp để tiếp tục học sau khi có bằng Tú tài.
Và thực ra má tôi không ủng hộ lắm trong cuộc tình nầy vì gia đình bên Quân nghèo và không cân xứng. Nhưng khi yêu thì con người
thường mù quáng và cho rằng tình yêu sẽ giúp ta chiến thắng. Cuối cùng thì Má tôi vì thương con cũng đành chấp nhận và tự an ủi dù sao
cũng là một hôn nhân do tình yêu. Về sau nầy khi tình yêu đã « biến dạng » và nhận ra là vì Tình yêu mà tôi lở dở chuyện học lâm vào cảnh
« lở thầy lỡ thợ », tôi mang niềm ân hận cho đến ngày nay.

Tuy nhiên, ngay vào thời gian đó, tôi còn mang tân hồn lãng mạng, ngây thơ trong tình yêu, nên sẵn sàng từ bỏ mọi chuyện và  còn « lao
đầu » vào lý thuyết « một mái nhà tranh hai quả tim vàng ».

Sau ngày cưới một tuần ; Quân phải vào trường đào tạo Sĩ quan Thủ Đức, cách Saigon độ hơn 30 cây số. Kỷ luật trong quân đội thật gắt
gao mà vì « tình yêu » ( !), Quân đã dám leo rào, trốn trại để về gần tôi được một đêm và tờ mờ sáng hôm sau anh tôi phải đưa Quân trở
lại trại trước giờ điểm danh, có nhiều hôm trễ giờ, bị phạt « tù ». Chừng đó làm cho tôi cảm thấy tự tin vào « Tình yêu » và thấy mình có lý
và bằng lòng cho sự lựa chọn và đắm mình trong « biển hạnh phúc ». Tuy nhiên niềm tin và hạnh phúc đó kéo dài được bao lâu ?
Gia đình tôi đạo Thiên chúa, Quân vì muốn cưới được tôi nên cũng phải đi học giáo lý, rửa tội dù gia đình Quân là đạo Phật. Bởi vậy cuộc
hôn nhân của tôi có những vướng mắc. Quân là người con trai đầu tiên mà tôi quen biết, thời gian quen biết, phải nói là Quân rất chìu
chuộng tôi ngay cả chuyện dám chống đối lại gia đình để theo đạo, cũng phần nào chứng minh tình yêu Quân dành cho tôi ? Nhưng rồi chỉ
một thời gian ngắn sau đó, tôi ở nhà với Má tôi vì Quân phải đi đóng ở những tiền đồn, chúng tôi rất ít gặp nhau. Cuộc sống trong quân đội
có thể phần nào ảnh hưởng đến tánh tình của Quân, Quân bắt đầu rượu chè, hút thuốc…Những ảnh người con trai hiền lành, lễ phép
nhường chỗ cho một người lính với những thái độ ngông nghênh. Tôi tự hỏi cuộc tình nầy có phải là tình yêu hay chăng, hay tôi chỉ là một
cô gái đua đòi theo nhịp sống, hay vì thiếu tình thương nay bỗng gặp người chiều chuộng mình nên cho đó là tình yêu. Thực ra từ bao nhiêu
thế hệ có ai tìm ra đưọc định nghĩa thật đúng của Tình yêu. Tôi vẫn còn nhớ bản nhạc cũ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có định nghĩa về
Tình yêu như sau :

«  Biết làm sao định nghĩa đươc Tình yêu
Tình yêu là thương là cho rất nhiều
Yêu như khung trời bảng lảng
Yêu trong như dòng suối vắng
Hay yêu là nghe cay đắng… »

Tình yêu là một cái gì thật trừu tượng, mình không nhận, không thấy, nhưng là nhu cầu của mọi lứa tuổi, mọi con người, mọi từng lớp của xã
hôi đều cần nó như không khí để thở. Xa thì nhớ, gặp thì giận hờn, ghen tuông. Trong giai đoạn mà ta gọi là « Tình yêu » cả hai đều cố
gắng, đấu tranh để vượt qua mọi chướng ngại vật, khó khăn để được gần nhau. Mỗi bên đều tự dũa mài những khía cạnh gồ ghề của tâm
hồn để ăn khớp vào nhau. Cuối cùng ngưỡng cửa « hôn nhân » hé mở, hai tâm hồn bước vào với lòng đầy tự tin vững mạnh vào Tình yêu
để xây đắp nền móng cho cuộc sống lứa đôi.

Nhưng rồi sự gặp gỡ chung đụng hằng ngày trở thành nhàm chán, những sự cố gắng để làm đẹp lòng nhau sẽ dần dần nhường chỗ cho sự
đối diện vào những sự thật, những khám phá  có khi bất ngờ đưa đến sự thất vọng. Những va chạm về quan điểm sống, những khó khăn
thực tế về tài chánh, quan hệ gia đình…Lúc đó những giây phút bên nhau sẽ không còn là những giây phút nồng cháy của những buổi hẹn
hò, tình tự ngắn ngủi mà sẽ trở thành những giây phút chịu đựng !

Nếu cả hai không đủ can đảm, kiên nhẫn mà vượt qua những tranh chấp, chán chường và kéo dài cuộc sống chung như đa số bao nhiêu gia
đình khác. Có phải chăng là một hạnh phúc giả tạo ? Sự thương yêu nồng cháy của buổi ban đầu thay vào cho những chuỗi ngày chán
chường.

Sau khi có đứa con đầu lòng, chúng tôi không có nhiều cơ hội gặp nhau vì Quân đã đi theo vào quân đội, đóng quân ở những tiền đồn xa
xôi. Tôi ở lại hậu chiến, ở với gia đình. Chúng tôi gặp nhau rất ít, có khi một năm độ hai ba lần thôi. Không hiểu có phải vì cuộc sống trong
quân đội có phần nào ảnh hưởng đến tâm tính của Quân không, tôi không còn tìm lại được hình ảnh người con trai hiền lành , nhút nhát lễ
phép mà nhường lại hình ảnh của một người Sĩ quan với thái độ ngông nghênh và những câu chuyện « không đầu đuôi », có một cái gì đó
không rõ ràng ! Một hôm, tôi bồng con sang thăm ba má chồng, thì bỗng nhiên Quân từ trại tiền đồn về mà không ghé qua thăm mẹ con tôi.
Tôi ngạc nhiên và cảm thấy như mình bị phản bội. Niềm tin từ từ rạn nứt, cuộc sống trở nên gượng gạo. Tiếp theo là những nghi vấn và
những cuộc cãi nhau. Tôi nhớ tôi có làm một điều hết sức thiếu suy nghĩ, là « tự hủy hoại » mạng sống của mình khi mới sanh đứa con đầu
lòng sau một trận cãi nhau. May lúc đó Má tôi linh tính hay kịp đưa tôi vào nhà thương kịp thời thoát chết. Nhưng sau lần đó, tôi cảm thấy
như thức tỉnh và cảm thấy mình trưởng thành.

Cuộc sống gượng gạo giũa chúng tôi chỉ kéo dài vài năm sau đó, tiếp theo « chiến tranh lạnh » trong hơn hai năm liền. Cuối cùng chúng tôi
quyết định li dị.
Cầm tờ giấy li dị trong tay, dù với hai đứa con nhỏ trên tay nhưng tôi cảm thấy như mình được chấp cánh. Cuộc sống vợ chồng ngắn ngủi,
cuộc sống một mẹ nuôi con khá dài.

Lần thứ nhì không phải là một hôn nhân tình yêu, tôi không chờ đợi nên không thất vọng và bằng lòng với những gì đến với mình. Hôn nhân
tình yêu hay hôn nhân do lý trí, cuộc hôn nhân nào mang lai cho người phụ nữ sự bằng yên ?

DIỄM ĐÀO
Paris, 14.10.2013