Culture et Pensees de Diem Dao
BƯỚC ĐƯỜNG VÀO ĐẠI HỌC. (1)

Cuộc đời mà ai không có một lần mơ ước ? Dù trong hoàn cảnh nào có những ước mơ mang lại cho ta một chút hi vọng. Hoàn cảnh càng
khó khăn, cuộc đời càng buồn tẻ, từ những thất bại này đến thất bại khác, thì ước mơ có phải chăng là một luồng gió mát trong mùa hè
nắng gắt, là một chút tia nắng ấm trong những đêm giá lạnh ?

Ngoại vẫn thường nhắc nhở mỗi khi tôi lười biếng học :
«  Nè, ráng học đi con, có nghề trong tay thì cuộc đời sau này đỡ vất vã. Nhớ ngoại nói nè : « Nhỏ mà không học, lớn mò sao ra ». Như má
tụi bây, nếu mà không có nghề dạy học, làm sao một mình thui thủi mà nuôi nổi bốn đứa con ? Bây giờ con còn được may mắn hơn bao
nhiêu người khác, được ngày hai bữa cắp sách đến trường mà không lo học thì sau này sẽ ân hận. »

Nhờ ngoại lúc nào cũng nhắc nhỡ mà tôi thi đậu vào trường Gia Long năm 1960.  Gia Long, một trường trung học nổi tiếng nhất trong miền
Nam. Trường là quy tụ những thầy cô giỏi, kỹ luật nghiêm. Nhưng làm đởi học sinh lại vào lứa tuổi « dậy thì », chắc ai cũng phải trãi qua
những lúc xao lãng học hành vì « bi vướng mắc vào tình yêu » , vì muốn « tung cánh ra ngoài vòng kiềm tỏa của cha mẹ » bằng cách nghĩ
là mình sẽ : đi làm ra tiền,  lập gia đình , có mái nhà riêng, mình sẽ có đời sống độc lập, tự túc về kinh tế, sẽ không còn bị rày la, sẽ không
còn những đêm phải « dồi mài kinh sử ». Thầy Cô  luôn luôn nhắc nhỡ :  “Cuộc đời học sinh là một cuộc đời thật đẹp, êm đềm, các em phải
tận hưởng thời kỳ mà mình có cuộc sống không vướng nhiều âu lo, không phải đấu tranh với cuộc sống bên ngoài, một ngày nào đó, khi
các em rời xa mái truờng, các em sẽ luyến tiếc. Kiến thức mà các em có được do sự chuyên cần làm việc. Thời gian các em ở đây chỉ có
bảy năm thôi. Các em nên tận hưởng những hạnh phúc mà mình đang có, trau dồi kiến thức. Chúng tôi hi vọng  kiến thức mà các em thâu
thập  sẽ là bàn đạp để giúp cho các em tiến xa hơn nữa, để đóng góp một cách thiết thực và hữu hiệu cho xã mội mai kia”.

Những lời nói này cho đến nay, vào lứa tuổi « về chiều » bước vào lứa tuổi mà người Pháp gọi là « les personnes troisième âge », nhóm
từ này với sự tế nhị để nói đến những người bắt đâu từ sáu mươi, tức là tuổi mà những ai đi làm việc sẽ được nghĩ « hưu trí ». Hưu trí là
thời gian mà con người cho trí óc được thảnh thơi sau cả một thời tuổi trẻ ít nhiều ai cũng đã tham gia đóng phần cho xã hội.
Nhưng chính vào lứa tuổi này tôi lại làm chuyện ngược đời, là bắt đầu cắp sách trở lại học đường.

Tôi vẫn còn nhớ, thời gian đầu tại Pháp, cũng như bao nhiêu người Việt xa xứ, tôi phải lao vào cuộc sống mới, hoàn toàn mới lạ, từ ngôn
ngữ cho đến khí hậu….Nhưng “Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”, cuối cùng rồi thì mình cũng phảỉ bắt buộc gia nhập vào cuộc đời mới
thôi.

Đôi lúc tôi tự ngẫm nghĩ, không hiểu rằng khi mình có những ước mơ quá mạnh, và những ước mơ đó cứ đeo duổi mình và trở thành như
một sự ám ảnh hay là như có một thế giới nào đó, có những người thuơng yêu mình, cảm thấy nhưng mơ ước đó , giúp cho mình thực hiện
hay chăng?

Rất nhiều lần có dịp đi đến Métro Jussieu, mỗi lần bước lên miệng hầm Métro, tôi không thể nào không nhìn được trường Đại học
“Jussieu”. Đúng ra đây là nơi tập trung của hai trường đại học Paris 6, Marie Curie và Đại học Paris 7, Diderot. Đại học Paris 7 bắt đầu
thành lập năm 1970, sau biến cố năm 1968.
Tháng 5 và tháng 6 năm 1968, là một giai đoạn đánh dấu một giai đoạn lịch sử của Pháp trong đó sinh viên, cũng đã góp phần quan trọng
trong cuộc đấu tranh về văn hoá và xã hội, chính trị. (fr.wikipedia.org/wiki/Mai_68)
Khi dọn đến ở quận 16, mỗi lần ra khỏi Métro Porte Dauphine, trường Đại học Daupine nằm sừng sững, đồ sộ ngay quảng trường
Dauphine, tôi cứ nhìn những ngôi trường đó với những tình cảm lẫn lộn, vừa mơ ước, vừa buồn vì nghĩ rằng ước mơ trở lại trường là một
điều không thể nào thưc hiện được. Vì vốn liếng tiếng Pháp còn quá ít và thật ra tôi cũng không biết làm thế nào để được chen vào thế giới
này ? Cuộc sống quay cuồng, vật lộn với miếng ăn để lo cơm ngày hai bữa cho hai con đến trường. Tuy nhiên không phải vì thế mà tôi
không ngừng sự ám ảnh đó. Có một vài lần, tôi đã từng rụt rè, buớc vào đi dạo trong hai ngôi trường này với sự mặc cảm, với những mơ
ước, hi vọng, tôi có cảm giác như mình là một cô gái con nhà nghèo mà dám đèo bồng « yêu » một người ở một giai cấp cao hơn mình.
Nhưng tình yêu quá mạnh đã không ngăn cản được tôi « mạnh dạn » bước vào thế giới xa lạ.

Tôi đã từng yêu văn chương, nhưng bị bạn bè lôi cuốn rủ rê, nên theo học Tú tài khoa học. Mơ học Đại học Văn khoa nhưng rồi phải kiếm
sống, những giấc mơ nho nhỏ đó cũng không thực hiện được. Lúc còn học trung học, tôi vẫn thường mơ rằng một ngày nào đó mình sẽ nói
và viết tiếng Pháp thật giỏi như những người Pháp, và còn dám mơ rằng mình sẽ diễn đạt tình cảm suy nghĩ của mình bằng tiếng nước
người. Đó chỉ là những ước mơ thầm kín thôi. Ai mà không có một lần trong đời mình có ít nhất một ước mơ thầm kín nào đó ?

Tự nhận thức sự cách biệt về ngôn ngữ, tự hiểu số vốn tiếng Pháp của mình còn quá khiêm nhường, cho dù sống trên đất Pháp cũng gần
hai mươi năm. Làm sao để vượt qua những sự cách biệt, làm sao thắng được sự « tật nguyền ngôn ngữ » ? Dù phải vật lộn với cuộc sống
để sinh nhai, nhưng tôi vẫn không hiểu sao mình không thể nào bỏ ý nghĩ làm sao « để vào đại học » ở Pháp,  cứ nghĩ rằng và thấy biết
bao nhiêu người từ nước ngoài đến Pháp để đi du học, phải tốn đủ thú tiến, tiền thuê nhà, phải đóng một số tiền trong ngân hàng, giấy tờ
cho du học sinh phải làm lại hằng năm mà vẫn có biết bao nhiêu người đeo đuổi theo học đại học ở Pháp. Và gần đây đã có nhiều nhà văn
ngoại quốc đã ra sách bằng tiếng Pháp. Những  ý nghĩ đó vẫn tiếp tục lẩn quẩn trong tâm tư tôi.

Đôi lúc tôi tự nhủ thầm thôi đó chỉ là những mơ ước quá cao, sẽ không bao giờ mình thực hiên được vì « Trèo cao, té nặng ». Có một lần
tâm sự cùng con gái, du học tại Mỹ. Con tôi cho lời khuyên :
-        Mẹ muốn môt ngày nào đó mẹ học về văn chương Pháp thì mẹ phải đọc sách cho nhiều, và cần nhất là mẹ phải đọc những tác phẩm
tiêu biểu trong văn chương Pháp .

Ngồi lục lại chồng sách cũ của hai con bỏ lại sau khi đã tốt nghiệp tú tài và mỗi đứa lại tiếp tục ở một chân trời mới, tôi tìm thấy danh sách
của những tác giả tiêu biểu, nào là Balzac, Stendhal, Château Briand… Thật ra lúc đó số vốn còn kém cỏi, tôi không hiểu thấu được nên
đành bỏ cuộc. Con gái vẫn tiếp tục khuyến khích và nhắc nhỡ. Tình yêu sách vở làm cho tôi không thể nào bỏ sách. Tuy nghèo tiền nhưng
chắc là không nghèo sách và không thể nào phụ bỏ sách vì tôi coi đó như là người bạn thân của mình.

Lúc còn ở bên nhà, mỗi lần dọn nhà, tôi lo dọn sách, những sách cũ của những năm trung học cho vào thùng trước tiên, dù rằng mình không
bao giờ có thì giờ xem lại nhưng không hiểu sao mình lại không có can đảm bỏ đi. Cứ mỗi lần như thế, người chồng của thời quá khứ
thường mỉa mai : « Cứ ôm mấy cuốn sách cũ kè kè, làm như mình là người hay chữ ! ». Câu nói đó như đụng vào « vết thương lòng » của
tôi, lại nữa vết thương này ngày càng loen lỡ với những tháng năm dài không hạnh phúc.

Mặc cảm về tuổi tác và cũng không biết phải bắt đầu như thế nào để làm giào cho số vốn tiếng Pháp ? Tôi bắt đầu ghi tên học « hàm thụ »
của trung tâm CNED trong hai khóa liên tiếp, sau đó cũng nhờ một lớp hàm thụ miễn phí do nhà nước. Thảo vẫn còn nhớ lúc vào làm thủ
tục, điền đơn, người phụ trách, bà Durudeau, vẻ mặt lạnh lùng, giọng nói gắt gỏng và nhất là bà không nhìn mặt người đối diện. Sự lạnh lùng
của bà làm cho mình cũng cảm thấy chùng lòng, nhưng tôi tự nhủ đã đi dến nơi thì không bỏ cuộc. Bà có dáng người nặng nhọc với số kí lô
thặng dư, vẻ mặt mệt mỏi nhưng còn phản phất nét đẹp của một thời son trẻ. Có lẽ sự kiên nhẫn của tôi làm cho bà ngạc nhiên hay xúc
động vì bà như tập trung trước máy vi tính làm việc, lát sau bà ngẩng lên nhìn tôi, nghe tôi trình bày ý muốn ghi danh học hàm thụ tiếng
Pháp. Bà ngồi im lặng rồi trả lời :
-        Bà nói tiếng Pháp trôi chảy mà sao còn muốn đi học ?
-        Nhưng tôi nghĩ nói thì đễ vì mình ở lâu tại Pháp thì một ngày nào đó mình sẽ nói được nhưng nói cho đúng va nhất là viết cho đúng thì
những người ngoại quốc như chúng tôi cần được học hỏi không ngừng.

Vẫn vẻ mặt lạnh lùng, bà đưa đơn cho tôi điền và nói : «  Thường những người ghi danh học hàm thụ, vì không có thầy kèm và tự mình phải
học và làm bài lấy nên rất nhiều người bỏ cuộc. Tôi thấy như vậy thật là vô ích và  mất thì giờ và tốn tiền của chính phủ. Bà sẽ nhận bài của
trường gởi đến nhà, bà tự làm bài và gởi đến trung tâm. Mỗi tuần bà sẽ có một ngày thứ tư để gặp tuteur để hỏi những thắc mắc và làm
thêm những bài tập về Văn phạm. Hi vọng bà không nằm trong số người bỏ cuộc đó.

( Còn tiếp )
Diễm Đào . Paris tháng ba 2010.



Bước đường vào Đại học. (2)

Kể từ ngày ghi danh, tôi nhận đều đặn bài ngang qua bưu điện. Học theo cách hàm thụ,  không có thầy, không phải đến lớp, không người
nhắc nhở hướng dẫn nên thường thì mình  hay dễ dãi : « không gấp, để mai hẵn làm »  nhất là khi gặp trở ngại, có những bài khó hơn sự
hiểu biết, mình phải tự tìm hiểu để làm bài về văn phạm, về cách viết thư... Vì không có sự bó buộc nên đôi khi tôi cũng mất đi sự hăng hái.
Tự nhủ là mình học để mở mang kiến thức và vì không muốn người Pháp có cảm tưởng không tốt đẹp về người mình như bà Durudeau đã
có ấn tuợng : « Tôi không nghĩ là bà nằm trong trường hợp những người ghi danh mà không đi đến nơi ».
Tự đấu tranh với những điểm yếu của mình, tôi góp bài đều đặn và cứ vào mỗi ngày thứ tư, đến đúng giờ để gặp « tuteur » và không ai
khác hơn là bà Durudeau. Sau nhiều lần gặp gỡ và ngang qua những mẫu chuyện ngắn ngoài giờ học, Thảo được biết quê của bà ở tỉnh
Guéret là nơi mà vợ chồng tôi có căn nhà ở đó. Thời gian sáu tháng trôi qua, giữa hai người dường có một cái gì đó gần gủi nhau hơn. Một
hôm sắp đến ngày mãn khóa học, tôi mời bà đi uống nước.
-        Tôi thấy Bà có trình độ tiếng Pháp khá, bà có thể đi xa hơn.
-        Cám ơn sự nhận xét của Bà. Nhưng thật ra tôi cũng không biết làm sao để mình có thể tiến xa hơn vì tôi đã bỏ học từ lâu. Bằng tú tài
của nước tôi không được tính tương đương với bằng tú tài của Pháp nên muốn ghi tên vào học đại học, tôi gặp nhiều trở ngại. Vã lại tôi
cũng chưa tự tin lắm với số vốn tiếng Pháp mà tôi đang có hiện nay.
-        Tôi kể cho bà nghe trường hợp của tôi. Cách đây hơn mười năm, tôi chỉ có bằng Trung học thôi, bây giờ thì tôi đã có bằng thạc sĩ
(master) ; lẽ ra nếu tôi có can đảm hơn thì tôi đã lấy bằng tiến sĩ (doctorat).

Tôi trố mắt nhìn bà vừa thán phục vừa ngạc nhiên. Bà tiếp tục kể chuyện về cuộc đời của mình : « Tôi là con gái duy nhất của một gia đình
làm nghề nông. Vào thời đó, khoảng năm sáu mươi, dù là học sinh xuất sắc nhưng gia đình tôi không muốn tôi học lên cao vì ba má tôi
không cho đó là cần thiết. Dù nước Pháp có một nền văn  minh cao nhưng ở những vùng quê lúc đó vẫn còn quan niệm hẹp hòi là con gái
không cần phải học cao. Lúc bấy giờ, người phụ nữ chỉ có hai nghề, một là học may, hai là học đánh máy và tốc ký để trở thành thơ ký.
Mặc lời năn nỉ của thầy giáo, ba má tôi vì nợ nần nên không thể cho tôi theo đuổi học lên cao hơn nữa, tôi cần phải đi làm để tự nuôi sống.
Tôi không thích nghề may nên quyết định học đánh máy. Buồn giận gia đình, tôi lên Paris, kiếm được việc làm. Tạm bằng lòng với số vốn
kiến thức của mình, tôi cũng không hề nghĩ đến chuyện đi học thêm. Thế nhưng tình yêu đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ vì tôi yêu một
người đàn ông có kiến thức rộng có trình độ học vấn cao. Có lẽ nhờ vào  tình yêu và vì không muốn có sự cách biệt giữa hai người, tôi
quyết định trở lại ghế nhà trường ».
-        Ồ ! Câu chuyện về cuộc đời của Bà thật là thú vị ! Bà có thể cho tôi biết thêm phần kế tiếp và bà đã vào đại học bằng cách nào ?
-        Tôi kể câu chuyện này vì tôi biết bà cũng có quyết tâm trau dồi kiến thức. Dù bà và tôi mỗi người có một hoàn cảnh riêng và mỗi
người có một động cơ khác nhau nhưng mình có chung một điểm là ước muốn được vươn lên, có lẽ cũng vì thế mà tôi ít nhiều có cảm tình
với bà. Nhất là trong thời gian qua, sự làm việc tích cực của bà làm cho tôi suy nghĩ và thay đổi phần nào ấn tượng đối với người ngoại
quốc. Tuy rằng tuổi của bà không còn trẻ như lúc tôi trở lại trường tuy nhiên với lòng quyết tâm, tôi tin chắc là bà sẽ đoạt được mục đích
của mình.
Để không mất thì giờ, để vào đại học theo con đường mà tôi đã đi qua, bà nên ghi danh học lớp DAEU (Dipôme d’accès des Etudes
Universitaires). Khóa học này nếu tôi nhớ không lầm được nhà nước mở ra vào năm 1968 để giúp cho những người bỏ học vì phải đi làm
hoặc vì lập gia đình hay với nhiều lý do cá nhân khác nhau. Chương trình kéo dài một năm gồm có môn Pháp văn, một ngoại ngữ tùy theo
mình lựa chọn và tùy theo loại ngoại ngữ có trong chương trình, thí dụ như tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Tây ban nha….Ngoài ra
mình phải chọn hai môn khác nữa, nếu mình muốn có bằng tương đương Tú tài Văn chương thì chọn những môn như Lịch sử, Triết
học…Còn nếu chọn Tú tài toán thì phải chọn những môn Toán, Lý, Hóa….. Đại khái là phải học bốn môn tất cả.
Để giúp cho những người phải vừa đi làm vừa đi học hoặc những bà mẹ trẻ, có con, mình được quyền ghi danh theo nhiều cách khác nhau.
Nếu mình cảm thấy đủ sức và đủ thời gian thì chọn cả bốn môn trong vòng một năm, và tổng cộng của các môn trung bình là 10, gọi là bù
qua sớt lại. Thí dụ môn Triết học bà bị dưới trung bình thì những môn khác trên trung bình sẽ được bù lại. Và mỗi người chỉ được quyền
học trong vòng bốn năm là tối đa.
Còn những người vì phải làm việc hoặc có con không thể lấy cả bốn môn thì mỗi môn phải có đủ trung bình mới đậu được, nếu không thì kể
như là rớt môn đó và tổng cộng cũng chỉ được quyền học trong bốn năm thôi.
Địa điểm học tổ chức ở một vài đại học, nhưng tôi chỉ nhớ là trường đại học Paris 7 và trường Sorbonne. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi thì
trường Paris 7 là một trong những trường đại học có tiếng về khoa học nhân văn (Sciences humaines) và có nhiều giáo sư tốt, lại thêm
không khí dễ chịu hơn. Đó chỉ là ý kiến cá nhân của riêng tôi. Tôi sẽ cho bà địa chỉ để hỏi thủ tục, bà tự lựa trường nào cho phù hợp với ý
thích cá nhân và  gần nhà để đừng mất thì giờ di chuyển. Trong các thủ tục hành chánh, luôn luôn mình sẽ gặp phải trở ngại, nơi đâu cũng
vậy, nhưng tôi nghĩ với lòng quyết tâm và sự kiên nhẫn thì bà sẽ đoạt đưọc kết quả tốt. Nơi tôi đã học qua là trường Paris 7, ở métro
Jussieu. Bà cứ đến đó để lấy tài liệu và suy nghĩ coi bà chọn trung tâm nào để theo học.

Câu chuyện ngắn ngủi và quyết tâm nâng cao trình độ do động cơ của tình yêu của bà D. đã giúp cho tôi cảm thấy can đảm hơn. Dù động
cơ thúc đẩy tôi trở lại ghế nhà trường không do tình yêu đôi lứa nhưng có thể cũng là một thứ tình cảm nào đó, sự đam mê, lòng hiếu học
hay mặc cảm bị thua kém ?  
Bản tính nhút nhát lại thêm sự mặc cảm làm cho tôi mất tự tin cũng như lòng can đảm. Có địa chỉ trong tay mà tôi cứ do dự, chưa tìm được
ngày nào để « dấn thân ». Sự thất bại trong cuộc sống và tuổi tác đã làm mòn đi lòng hăng say và can đảm chăng ?

Cách đây vài năm, Thảo « liều » vào trường Paris 7, là một nhánh của truờng Đại học Paris 7, đến Ban Việt học mang tên là UFR LCAỌ
Langues et Civilisations de l’Asie Orientale), nằm ở couloir 34/44, lầu 1.
Hôm đó, tôi gặp một người nhân viên và hỏi xem bằng Tú Tài Việt năm 1967 có được ghi danh vào môn học này không ? Người nhân viên
bảo rằng có thể được nhưng phải chờ gặp bà Hiệu trưởng. Phải chờ khá lâu mới được gặp Bà, người Việt, nhưng với vẻ lạnh lùng. Sau
khi nghe tôi hỏi điều kiện để ghi danh vào học Ban Việt học. Bà trả lời trường hợp của tôi không đơn giản vì tôi bỏ học lâu và không có bằng
Tú Tài Pháp. Bằng cấp của Việt Nam phải nộp đơn để xin qua một test để xem có xếp tương đương được hay không ? Dễ nhất là có bằng
Tú tài của Pháp. Sự lạnh lùng cùng với vẻ khó khăn của bà Hiệu trưởng làm cho tôi lại càng thấy nản chí, nên bỏ cuộc. Vì vậy lần này dù có
được sự động viên của bà D. tôi vẫn cảm thấy bối rối và không có can đảm vì sợ sẽ lại bị thất vọng.

Như người bị « người yêu » ruồng bỏ, tôi vẫn cố gắng bám víu theo đuổi, hai năm sau lần bị từ chối, lần này tôi trở lại nơi xưa. Cũng cảnh
cũ, ngôi trường rộng lớn chiếm cả một diện tích thật rộng, bao bọc bởi bốn con đường. Mặt tiền trường là đường Jussieu, ngay métro
Jussieu vì vậy thường mọi  người thường hay gọi là « trường Jussieu ». Phía trái là đường Fossé Saint Bernard. Sau lưng trường là Quai
Saint Bernard. Phía mặt là đường Cuvier.  Thật ra nơi đây là tập trung của hai trường Đại học : Paris 6, Pierre et Marie Curie (www.upmc.
fr). Trường mang tên hai nhà nghiên cứu khoa học Pierre và Marie Curie. Trường Paris 6 chiếm phân nửa phía trái, còn trường Đại học
Paris 7, mang tên Diderot. Diderot vừa là nhà văn, triết học gia và cũng là người soạn quyển tự điển Pháp, ông mất vài năm trước ngày
cách mạng Pháp năm 1789.

Theo lời dặn dò của bà D., chỗ ghi danh học gọi là Maison de Pédagogie, nằm trong trường Đại học Paris 7. Hôm đó, tôi lấy métro, bước
ra khỏi miệng hầm métro Jussieu, thấy ngôi truờng với nhiều Tours cao sừng sững.
Sau lần thất bại cách đây hai năm, lần này tôi trở lại chốn cũ với sự ngỡ ngàng và « mất niềm tin ». Tuy nhiên, vì không muốn phụ lòng bà
D. vừa là người thầy cũng vừa là người bạn, tôi thu hết can đảm, đánh bạo bước vào, trong đầu chuẩn bị sẳn sàng đối diện với những
gương mặt lạnh lùng.
Nhìn vào bản đồ của trường, tôi phải đi từ ngoài cổng chính nằm trên đường Jussieu, đi vòng sau tour central, đi xuyên qua những couloirs
dài hun hút, và cuối cùng thì thấy Maison de Pédagogie nằm cuối trường, gần Quai St Bernard, kế bên Gymnase của trường. Văn phòng
năm ở lầu 1, trên tường có gắn những thông báo và kết quả thi…

Tôi gỏ cửa trước khi bước vào, theo qui định gắn trước cửa. Văn phòng có ba bureaux, trước mặt và hai bên. Ba người đàn bà, người thì
cắm cuối viết lia viết lịa, người thì trả lời điện thoại « say sưa » ra vẻ như bận rộn vì là mùa ghi danh...
Do dự vì không biết mình sẽ được ai tiếp đón, nên Thảo kiên nhẫn đứng chờ, ruột rối như tơ vò, không biết lần này mình sẽ được trả lời
như thế nào đây. Lát sau, người thư ký, khoảng độ ngoài bốn mươi, dáng người đẫy đà, mái tóc nhuộm hoe đỏ, gác máy điện thoại xuống,
nụ cười cũng theo đó vụt biến mất. Với vẻ mặt « nghiêm trang »  của người làm việc, bà cất tiếng hỏi Thảo :
- Chào bà, tôi có thể giúp được gì cho bà ?
- Tôi muốn xin làm thủ tục để ghi danh học.
- Cho con của bà?
- Không. Cho tôi.
- Xin lỗi!
Câu “xin lỗi” được thốt ra để chứng tỏ mình là người của một xã hội văn minh ? Bà nhìn tôi tưởng có lẻ là nghe nhầm hoặc tuởng là tôi
không hiểu tiếng Pháp, một tiếng nói được xếp vào trong những ngôn ngữ khó và biểu tượng cho người phải có một trình độ nào đó nhất là
đối với những người da màu.
-        Ghi danh cho tôi. Tôi ráng bình tĩnh lập lại và biết rằng mình sắp gặp sự trở ngại.
Lúc này Bà thư ký mới ngẩng mặt lên nhìn tôi kỹ hơn và cất giọng hỏi:
-        Bà có biết đây là khóa học để có bằng tương đương với Tú tài để tiếp tục vào đại học không?
-        Có, tôi biết.
-        Nếu bà muốn tiếp tục học thì ở đây có lớp dành cho người lớn tuổi gọi là “Université ouverte”. Bà sang bureau bên cạnh để làm thủ
tục với người đồng nghiệp của tôi.
-        Tôi muốn ghi danh học khóa này. Bà cho tôi biết giấy tờ cần để nộp?
-        Bà đã học đến trình độ nào ở xứ của bà?
-        Tôi có bằng tú tài và nghỉ học lâu và bây giờ tôi muốn học tiếp chương trình Đại học.
-        Bà đã có bằng Tú tài rồi thì không phải học khóa này. Vì khóa này dành cho những người chưa có Tú tài.
Tôi cảm thấy hụt hẫng vì không ngờ câu trả lời thật tình của mình lại rước lấy một sự từ chối như vậy.Trên nguyên tắc thì là đúng, nhưng bà
ấy không hiểu và có lẽ không muốn hiểu tại sao một người ở vào tuổi hưu trí như tôi  mà còn muốn đeo đuổi chuyện học hành làm gì? Sau
đó thì bà ấy lại làm ra vẻ bận rộn, tiếp tục nói chuyện điện thoai như để cho tôi  hiểu rằng câu chuyện đã chấm dứt.
(còn tiếp)

Diểm Đào        
Paris ( tháng năm 2010)


Bước đường vào Đại học. (Phần 3)

Đây không phải là lần đầu tiên bị sự từ chối, tôi không thể nào quên được những thời gian đầu trên đất Pháp, mỗi lần đi xin giấy tờ hành
chánh, mình thường gặp những bộ mặt lạnh lùng. Dù đã được rèn luyện như vậy nhưng tôi vẫn không tránh khỏi được sự thất vọng và gần
như nản chí. Luật lệ và người thi hành luật là hai chuyện đôi lúc hoàn toàn khác hẵn. Lòng buồn bã ra về, bước đi chầm chậm, sự hăng hái
không còn như buổi ban đầu. Tôi cũng nhớ bà Durudeau cho biết rằng có thể mình sẽ bị gặp trở ngại. Bỗng dưng tôi nhớ lại vẻ mặt lạnh
lùng của bà Durudeau ngày đầu tiên đến gặp bà.

Trên đường trở về nhà ghé vào nhà thờ, nơi tôi tìm sự an ủi trong lời cầu nguyện. Nhìn lên ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu giúp, dù không một lời
nói, không một lời than thở nhưng không khí tỉnh lặng, dưới ánh mắt bao dung của Đức Mẹ, tôi cảm thấy mình được bình yên và dường như
có thêm một sức  mạnh vô hình nào đó. Tôi vẫn còn nhớ ngày rời quê hương, mẹ tôi tặng tôi bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, với lời
nhắn nhủ yêu thương, mong rằng Đức Mẹ lúc nào cũng ở bên tôi, do vậy mà bao nhiêu lần dời đổi chỗ ở tôi vẫn còn giữ canh cánh bên
mình ảnh Đức Mẹ.

Cũng chưa biết mình phải làm gì, chưa biết mình phải phản ứng ra sao để đạt được ước mơ của mình. Không lẽ mình chịu thua một cách
dễ dàng sao, tôi bắt điện thoại lên và gọi vào văn phòng, nơi mình vừa bị « hất hủi » :
-        A lô ! Maison Pédagogie nghe đây.
-        Tôi muốn xin hồ sơ để ghi danh.
-        Bà cho biết tên và địa chỉ để tôi gởi hồ sơ đến.

Cũng giọng nói của người thư ký mà tôi vừa gặp sáng nay và bị từ chối. Có lẽ ngang qua điện thoại bà không nhớ là đã trả lời từ chối. Vài
ngày sau, tôi nhận được hồ sơ, theo hồ sơ thì thấy mình không thiếu điều kiện gì. Theo đơn chỉ cần thiếu một tờ giấy thì đơn sẽ bị từ chối.
Điền  đơn và kèm theo photocopies những giấy tờ cần thiết , tôi lại « mạnh dạn » trở lại chốn cũ. Lần này cũng gặp người thư ký đó, nhưng
tôi quyết không « lùi bước », kiên nhẫn ngồi chờ đến lượt mình. Ngồi nhìn bà cứ cắm cúi viết lia lịa, trả lời điện thoại liên tục. Ngồi quan sát
chữ viết, cách nói chuyện của bà cho qua giờ. Lát sau bà ấy ngẩng lên nhìn :
-        Tôi có thể làm gì giúp bà.
Dường như bà đã quên mặt tôi, tôi nhìn Bà mỉm cười :
-        Tôi nộp hồ sơ xin ghi danh. Cho phép tôi được nói về Bà ?
Bà nhìn tôi hơi ngạc nhiên :
-        Được, Bà cứ nói.
-        Bà là một người phụ nữ rất can đảm, rộng rãi, hay giúp người. Tánh tính cứng cỏi.
Lần này nụ cười « thiện cảm  thay cho vẻ mặt lạnh lùng»
-        Bà chưa biết tôi sao bà nói đúng quá vậy.
-        Tôi nhìn chữ viết của Bà nên đoán vậy thôi.
-        Bà nghiên cứu về chữ viết hả ?
-        Tôi chỉ đọc sách nên biết chút đỉnh.
-        Tôi rất thích khoa này.
-        Tôi có quyển sách nói về khoa này. Nếu Bà thích tôi sẽ tặng cho Bà.

Sau đó là câu chuyện chuyển hướng qua vấn đề « bói chữ viết », đề tài này có lẽ hợp với ý bà, sự trao đổi, chuyện trò tạo ra một tình cảm,
sự thông cảm ? Từ đó, bà không còn tỏ vẻ bận rộn như lúc đầu nữa. Sau tôi còn vài người sắp hàng để ghi danh. Lần này Bà nói chuyện
với tôi bằng giọng nói nhẹ nhàng hơn :
-        Hồ sơ của Bà đầy đủ chưa ?
-        Dạ đủ cả.
-        Bà cứ để đây, nếu có thiếu sót gì thì tôi sẽ gọi điện cho Bà. Bà về nhà và chờ giấy báo đi thi.
-        Bà có thể cho tôi biết là thi như thế nào không ?
-        Thường thì, bà sẽ có một bài texte của một nhà văn để làm tóm tắt. Hẹn lần sau và chúc bà may mắn.
-        Hôm nào đi thi Test thì tôi sẽ ghé qua đưa cho bà quyển sách.
-        Được rồi, không gấp. Cám ơn bà.
-        Bà tử tế quá.
-        Lẽ tự nhiên, đó là công việc của tôi.

Nếu tôi nản chí bỏ cuộc thì không qua được bước đầu. Có phải chăng nhờ lời cầu nguyện, Đức Mẹ đã soi sáng cho tôi biết chuyện gì mình
phải làm ? Giai đoạn đầu đã qua, giờ thì chỉ chờ giấy gọi « đi thi ». Từ hôm đó, tôi mua sách về học cách làm tóm tắt. Bỏ học lâu, nhìn
những trang sách đày đặc chữ, đôi lúc cũng nản lòng. Một tuần sau, tôi nhận được giấy, báo cho biết ngày giờ đi thi. Trở lại văn phòng và
không quên mang quyển sách « bói chữ viết » cho bà thư ký và đồng thời để biết phòng thi. Lần này, bà tiếp tôi với nụ cười và vui vẻ
hướng dẫn đến tận phòng thi, đi ngang qua những hành lang dài hun hút, và đến nơi, bà không quên chúc tôi được may mắn và bảo bao giờ
có kết quả thì cho bà hay.

Ngồi đợi trên băng chờ đến lượt mình. Lát sau, người Thầy gọi tên, và vào phòng thi. Một người đàn bà tuổi ngoài bốn mươi, dáng người
nhỏ nhắn, mái tóc dài quăn tự nhiên. Miệng cười tươi, hàm răng trắng muốt. Cặp mắt bà dấu sau cặp kính dầy cộm. Bà nhìn tôi cười, giọng
nói nhỏ nhẹ của bà làm cho tôi cảm thấy an tâm :
-        Chào Bà.

Sau lời chào, tôi đưa cho bà xem giấy tờ. Bà đưa cho tôi hai bài văn, một bài của Jean Jacques Rousseau, và một bài của Diderot.
-        Bà lựa một trong hai bài để làm tóm tắt, bà có 30 phút để làm.

Ba mươi phút thật căng thẳng trôi qua. Tôi nộp bài cho Bà và ngồi chờ. Lát sau tôi lại được mời vào một văn phòng, chỉ có bà và tôi. Bà
hỏi tôi về nội dung bài văn của Jean Jacques Rousseau, và bà bảo đọc cho bà nghe phần tóm tắt. Sau đó bà hỏi lý do và động cơ nào thúc
đẩy tôi trở lại trường. Tôi tóm lượt quá trình của mình trên đất Pháp và nói về nguyện vọng và mơ ước của mình. Sau khoảng hơn hai mươi
phút « đàm đạo ». Lời nói chân thành và lòng quyết tâm của tôi có lẽ làm bà xúc động nên Bà nhìn tôi cười và nói :

-        Bà đậu rồi. Nhưng nếu bà muốn xem thấy tên mình đăng trên bảng thì bà trở lại sau hai tuần. Sau đó bà phải qua một bài Test về một
sinh ngữ mà bà chọn để xếp trình độ thôi. Bà đã được nhận vào học ở đây. Sau một năm học, nếu thi đậu thì bà sẽ được bằng tương
đương với bằng Tú Tài và cửa Đại học sẽ mở rộng cho Bà. Tôi mong rằng, với lòng quyết tâm bà sẽ đoạt được mục đích của mình. Chúc
bà can đảm.

Lời nói, nụ cười và ánh mắt của bà như nói lên sự cảm thông với một người đeo đuổi theo một mối tình vô vọng. Sau gần bốn mươi năm
mơ ước được trở lại ghế nhà trường, được bước vào ngưỡng cửa đại học. Bốn mươi năm dài đăng đẳng, tôo ngỡ rằng mình đã quên đi
và « an phận » với niềm thất vọng. Các bạn cùng học với tôi ngày nào dưới mái trường Gia Long, những người bạn thân trong nhóm « Des
Jeunes Filles Mystérieuses et Dangereuses » nay tuy có người đã về hưu, có người vẫn còn làm việc, nhưng người nào cũng tốt nghiệp đại
học và cũng là bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư, giáo sư. Sự thua thiệt bạn bè cũng như những người trong gia đình, dòng họ, trong xã hội, làm cho tôi
luôn muôn mang một mặc cảm thua thiệt và tự giận mình làm lỡ cuộc đời của mình, vì chạy theo « tiếng gọi ái tình » của thời son trẻ ? Đây
là một sự ân hận và dai dẵng sâu trong tiềm thức.

Xa quê hương, lăn mình vào cuộc sống để mưu sinh như bao nhiêu người Việt trên đất người, ngày qua ngày, tuổi đời chồng chất, niềm tin
và hi vọng như xa rời mình theo tháng năm. Ước mơ vào Đại học đối gần như vô vọng, nhưng tôi luôn luôn tìm cách tự trau dồi kiến thức
cho mình bằng nhiều cách nhưng ước mơ vào đại học đối với tôi như một sự thử thách và đôi khi tôi tự nghĩ rằng mình quá « trèo cao » và
làm chuyện vô ích, mất thì giờ. Học để làm gì ? Mất thì giờ một cách vô ích ! Dù rằng tự nghĩ như vậy nhưng hôm nay nghe bà thầy cho hay
mình được nhận vào học, bước khó khăn thứ hai đã qua. Tôi vẫn còn như bàng hoàng và đồng thời cũng lo sợ không biết mình có đủ khả
năng để đeo đuổi đến nơi hay không ?  Niềm vui và nỗi lo như gắn liền, một tình cảm lẫn lộn. trên bước đường về nhà, tôi cũng lại ghé qua
nhà thờ để cho lòng mình lắng đọng. Tự hỏi mình học để làm gì, việc học này sẽ mang ích lợi cho ai ? Hay chỉ là ích kỷ của bản thân ? Bao
nhiêu câu hỏi, tự vấn lòng. Hoang mang, không tìm ra được câu trả lời.

(còn tiếp)

DIỄM ĐÀO
(Paris tháng sáu 2010)